ĐI NGHE GIÓ TRÊN CÁNH ĐỒNG BÁT NGÁT - chương 25
chương 25. ngày thứ tám (4) Sắc Đạt
Hôm qua vì niềm vui bất ngờ nọ mà chậm trễ mất chút thời gian, không kịp nhân lúc trời còn sáng đi dạo hết Sắc Đạt nho nhỏ. Thế nên Thẩm Trường Kinh đã hùng hồn thề rằng sáng hôm sau nhất định phải dậy sớm.
Nhưng trong giấc ngủ ngon lành, cậu hoàn toàn quên sạch lời thề mới lập cách đây bảy tiếng.
Tạ Lan Sinh gọi dậy, cậu chỉ vung tay một cái, xoay người, vùi mặt sâu vào chăn rồi lầm bầm mấy câu chẳng biết đang mắng ai.
Tạ Lan Sinh đã sớm đoán được cậu chắc chắn không bò dậy nổi.
Anh tượng trưng hoàn thành chuyện mình đã hứa với Thẩm Trường Kinh — gọi cậu dậy — rồi một mình ra ngoài tìm chỗ ăn sáng.
Ở Sắc Đạt, tín ngưỡng không phân biệt thời gian hay địa điểm.
Ánh mặt trời còn ẩn sau những tầng mây dày, trên đường đã có vô số người hành hương quỳ lạy. Họ đi một bước, lạy một lần. Khoảnh khắc toàn thân phủ phục xuống mặt đất, lời cầu nguyện như được lắng nghe, linh hồn được gột rửa, mọi khổ đau của một đời dường như đều tan thành mây khói.
Chỉ còn con đường dưới chân và thần linh trong lòng.
Khắp nơi đều có thể nhìn thấy người Tạng tay cầm kinh luân, miệng lẩm nhẩm cầu nguyện. Có cụ già bước chân tập tễnh, có người trẻ tuổi khỏe mạnh, có những đứa trẻ đôi mắt vẫn đầy nét ngây thơ, cũng có tăng nhân thong thả đi học buổi sớm, vừa đi vừa trò chuyện cùng bạn đồng hành.
Tạ Lan Sinh lặng lẽ đi ngang qua họ, cuối cùng dừng lại ở nơi mang nhiều hơi thở khói lửa nhân gian nhất.
Sắc Đạt chỉ có đồ chay, không có món mặn, nhưng thực phẩm được chế biến từ nguyên liệu địa phương cũng có thể coi là mỹ vị chốn nhân gian.
Những lúc quan sát ở đài thiên văn, Tạ Lan Sinh cũng thường ăn kiểu đồ chay này trong nhà ăn: khoai tây, mì Ý, các loại canh… Có ngon hay không không quan trọng, chủ yếu là no bụng.
Ăn xong một bữa sáng phong phú trong quán gỗ nhỏ, anh còn đóng gói cho Thẩm Trường Kinh một phần mì tùng nhung thêm trứng kho, bánh bao rau thanh khoa và sữa đậu nành.
Khi Tạ Lan Sinh trở về nhà nghỉ, Thẩm Trường Kinh đang ngồi ngơ ngác trên giường với mái tóc rối như tổ chim.
Mắt thì đã mở, nhưng người rõ ràng vẫn chưa tỉnh hẳn.
Câu đầu tiên cậu nói khi nhìn thấy Tạ Lan Sinh là:
“Em còn tưởng anh bỏ em lại rồi chạy mất chứ.”
Ánh mắt thậm chí còn mang theo chút oán trách.
“Anh có thể chạy đi đâu? Điểm cuối của chúng ta giống nhau.”
Tạ Lan Sinh đóng cửa, đặt đồ ăn lên bàn rồi lần lượt mở từng hộp, chẳng thèm để ý cơn cáu ngủ của cậu.
“Qua đây ăn sáng.”
Bụng Thẩm Trường Kinh lập tức réo lên một tiếng.
Thay chủ nhân trả lời luôn rồi.
Thẩm Trường Kinh ấn cái bụng không biết nghe lời, xấu hổ vén chăn xuống giường đi đánh răng rửa mặt.
“Mặc thêm áo khoác.”
Tạ Lan Sinh gọi vọng về phía nhà vệ sinh.
Thẩm Trường Kinh vừa chui vào trong lại vội vàng chạy ra, vớ lấy áo khoác mặc lên người.
Sắc Đạt nằm ở độ cao hơn bốn nghìn mét, sáng sớm nhiệt độ khá thấp. Lúc ngủ Thẩm Trường Kinh chỉ mặc một chiếc áo ngắn tay, mặc dù trong phòng có sưởi sàn nhưng vẫn phải đề phòng bất trắc.
Ở vùng cao mà bị nhiễm lạnh rồi cảm cúm thì phiền phức lớn.
Mười giờ rưỡi, Thẩm Trường Kinh lề mà lề mề cuối cùng cũng ăn mặc chỉnh tề, ra khỏi nhà nghỉ.
“Nếu thật sự buồn ngủ thì cứ ở nhà nghỉ ngủ đi, không cần phải gấp.” Tạ Lan Sinh thấy mí mắt cậu vẫn hơi rũ xuống, tinh thần không được tốt lắm, “Lịch trình có thể điều chỉnh tùy ý. Ngày mai đi Cam Tư cũng được.”
“Ăn no thì đương nhiên phải buồn ngủ rồi. Ánh nắng đẹp thế này, sao em có thể lãng phí được?”
Thẩm Trường Kinh nâng vành mũ, trong tay cũng nhập gia tùy tục, cầm chiếc kinh luân mua tối qua mà xoay.
“Ngắm thêm chút cảnh đẹp là tỉnh ngủ ngay.”
“Mong là vậy. Nhìn đường.”
Tạ Lan Sinh vẫn không nhịn được phải nhắc.
“Biết rồi, biết rồi, Tạ đại giáo sư.”
Thẩm Trường Kinh cố ý kéo dài giọng.
Ở Sắc Đạt có một số nơi không cho phép chụp ảnh, thế là hai người dứt khoát không mang theo máy ảnh, nhẹ nhàng ra trận, dùng chính đôi mắt để ghi lại cảnh vật.
Nhìn từ xa, Phật quốc đỏ rực một vùng, tương phản với trời xanh mây trắng, sắc đỏ đẹp đến chấn động lòng người.
Nhưng khi đến gần sẽ nhận ra nơi đây không hề hoàn mỹ. Lớp sơn trên những căn nhà không đồng đều, có chỗ loang lổ, có chỗ khá thô sơ.
Điều ấy cũng rất bình thường.
Tăng xá đều do các tăng nhân tự xây dựng, không phải xuất phát từ bàn tay của thợ chuyên nghiệp. Vật liệu phần lớn cũng được lấy tại chỗ: đất, đá, gỗ, tôn… Việc sơn sửa vô cùng khó khăn, vừa tốn sức vừa mất công.
“Buổi tối mùa đông họ không lạnh à?”
Thẩm Trường Kinh hỏi.
Tạ Lan Sinh nói:
“Câu này cũng giống như hỏi họ ngày ngày tụng kinh tu hành có thấy chán hay không. Hoặc hỏi em cứ liên tục làm phim như vậy có thấy mệt không.”
“À, hiểu rồi.”
Thẩm Trường Kinh lập tức đọc liền một mạch:
“Trời sắp giao trọng trách cho người nào, ắt trước tiên phải làm khổ tâm chí, nhọc gân cốt, đói thể xác, cùng quẫn thân mình, làm việc gì cũng bị rối loạn, nhờ vậy mà lay động tâm tính, tăng thêm khả năng, làm được những việc trước đây chưa thể làm.”
Một đoạn văn ngôn từng bắt học sinh cấp hai phải học thuộc lòng cứ thế tuôn ra.
“Gần đúng.” Tạ Lan Sinh khen, “Trí nhớ khá đấy.”
Ánh mắt anh lướt qua những căn nhà san sát trước mặt. Chúng gần như tường kề tường, không chừa lấy một khe hở.
“Nhưng họ không mang lòng vụ lợi. Rất chân thành.”
“Người như em chắc chắn không thể sống cả đời ở đây.” Thẩm Trường Kinh thẳng thắn, “Em tham quá. Còn anh?”
Tạ Lan Sinh cười, mang chút tự giễu:
“Anh tạm thời cũng chưa đạt đến cảnh giới thanh tâm quả dục.”
Hai người đi ngang cửa hàng bán đồ nhập khẩu Ấn Độ, Nepal nơi tối qua đã mua kinh luân, men theo con đường tiếp tục đi lên.
Dọc đường gặp rất nhiều lạt ma và giác mỗ. Trên gương mặt mỗi người đều có nụ cười bình yên, mãn nguyện.
Giữa sườn núi có một chiếc kinh luân khổng lồ được bao trong gian nhà kính mái vàng, cao chừng hai ba mươi mét. Ánh mặt trời chiếu lên, cả thân kinh luân lấp lánh ánh vàng.
Tạ Lan Sinh và Thẩm Trường Kinh đứng ngoài cửa, đang do dự không biết có thể vào hay không thì một người bản địa mặc áo Tạng nhìn ra sự chần chừ của họ, nhiệt tình vẫy tay, bảo hai người cùng vào xoay kinh luân.
Đứng bên trong, vật khổng lồ ấy càng trở nên cao vút, ngẩng đầu gần như không nhìn thấy đỉnh.
Vốn dĩ muốn đẩy nó phải tốn rất nhiều sức, nhưng vì có đông người cùng xoay nên lại trở nên nhẹ nhàng hơn.
Hai người hòa vào dòng người, cùng đẩy kinh luân hết vòng này đến vòng khác.
Tiếng tụng kinh vang vọng khắp gian phòng.
Ra khỏi nhà kính, người đàn ông bản địa kia chủ động trở thành hướng dẫn viên, dẫn hai người đi dạo quanh Sắc Đạt.
Ông là người rất thích nói chuyện, nước da vàng nâu, hai bên má mang màu đỏ cao nguyên nhàn nhạt. Tiếng Phổ thông pha chút âm điệu Tạng, chất phác mà đáng mến.
Theo lời ông kể, ông đã tới Sắc Đạt từ khi còn rất nhỏ.
Ông lớn lên ở đây, cũng sẽ già đi và chết ở đây.
Sắc Đạt là quê hương, là “người mẹ” nuôi dưỡng ông. Ông hy vọng sau khi chết có thể hiến thân xác mình cho thần linh, để linh hồn mãi mãi bảo vệ mảnh đất này khỏi bị quấy nhiễu, đời đời bình an.
Ông cũng kể những phiền toái mà giao thông phát triển và ngành du lịch hưng thịnh mang lại cho Sắc Đạt những năm gần đây.
Quá nhiều du khách nghe danh mà tới nhưng không tuân thủ quy định nơi đây, phá vỡ sự yên tĩnh của Sắc Đạt, quấy nhiễu trật tự sinh hoạt, khiến vùng thánh địa tu hành này dần vướng bụi trần.
Hơn bốn mươi năm trước, nơi đây chỉ có ba mươi hai học viên.
Ngày nay, hàng vạn tín đồ liên tục đổ về. Tín ngưỡng được truyền thừa, phát triển, nhưng môi trường sống đồng thời cũng đang thay đổi.
“Nhưng chẳng ai trong chúng ta có thể thay đổi được hiện trạng ấy.”
Nói xong, ông chắp hai tay trước ngực, khép mắt, bình tĩnh cúi lạy về phía đàn thành.
Thẩm Trường Kinh không biết nên an ủi thế nào.
Người đàn ông ấy cũng không hề phẫn nộ, chỉ có chút buồn bã, nhưng nhiều hơn vẫn là sự thanh thản.
Tạ Lan Sinh nói với ông:
“Mọi chuyện đều có định số của nó.”
Người đàn ông mỉm cười.
Các đại điện trong Học viện Phật giáo Ngũ Minh nghiêm cấm du khách bước vào.
Thẩm Trường Kinh và Tạ Lan Sinh chỉ đứng ngoài điện nghe kham bố tụng kinh.
Ở nơi xa, những lá cờ cầu nguyện trên đỉnh núi mặc gió lay động, hòa cùng tiếng Phạn ngân vang từ xa.
Hai người chào tạm biệt người hướng dẫn, tiếp tục đi dạo thêm một lúc rồi trở về nhà nghỉ.
Một giờ chiều, họ lại ra ngoài, đi tới đài thiên táng.
Đọc truyện tại website Meomeoteam.site hoặc tìm kiếm Meomeoteam truyện chữ để ủng hộ bộ truyện nhé
Nghi thức thiên táng bắt đầu đúng một giờ rưỡi chiều.
Hai người ngồi trên những bậc đá lát cuội ở vị trí khá xa.
Xung quanh, người xem cũng lần lượt kéo tới. Ban đầu còn có những tiếng bàn tán ồn ào, nhưng khi các thiên táng sư khiêng từng bọc vải trắng vào khu vực hành lễ, tiếng nói chuyện dần dần biến mất.
Ánh mắt tất cả mọi người đều không hẹn mà cùng hướng về một chỗ.
Ai cũng biết bên trong những tấm vải trắng ấy là thi thể.
Thiên táng sư bình tĩnh mở lớp vải, thuần thục dùng rìu và dao sắc xử lý thân thể cùng xương cốt.
Rõ ràng cách rất xa, nhưng âm thanh lưỡi dao chạm vào xương thịt lại như văng vẳng ngay bên tai, khiến người nghe khó chịu.
Bầu trời vốn sáng sủa bỗng tối xuống.
Gió lạnh trĩu nặng mang theo từng đợt tiếng tụng kinh bay vào trời đất, đưa tiễn những linh hồn dường như vẫn còn lưu luyến nhân gian.
Vô số kền kền nghe tiếng bay tới, lượn vòng trên trời, chờ đợi.
Sau khi thiên táng sư hoàn thành việc xử lý thi thể, gõ ba lần vào xương sọ người đã khuất, đàn kền kền kín trời như nhận được mệnh lệnh, lập tức lao xuống khu vực thiên táng, ngậm lấy từng miếng thịt rồi nuốt sạch.
Người chết hoàn thành lần bố thí cuối cùng của đời này.
Thân xác mất đi, linh hồn không dứt.
Toàn bộ quá trình chỉ kéo dài hơn mười phút nhưng đủ khiến người ta kinh tâm.
Những phần xương trắng còn lại cùng vết máu trên mặt đất chứng minh rằng những con người ấy đã từng thực sự tồn tại. Họ cũng từng có thân xác phàm tục, từng có thất tình lục dục, từng trải qua vô thường, vui buồn giận thương của thế gian.
Các thiên táng sư thu dọn dụng cụ rồi rời đi.
Những vị lạt ma tụng kinh cũng đi.
Xương sọ của người chết được đưa vào tháp xương sọ, lưu lại dấu vết ít ỏi cuối cùng chứng minh họ từng tồn tại trên thế giới này.
Không một ai trong số những người có mặt lên tiếng.
Dường như tất cả vừa một lần nữa hiểu thêm về cái chết.
Phía dưới chỗ ngồi dựng mấy tấm bia đá:
Ở nơi này, có thể cảm nhận thân xác vốn chẳng mang ý nghĩa chân thật.
Ở nơi này, có thể hiểu tuổi thọ vô thường, chẳng thể định trước.
Ở nơi này, có thể thấu suốt sinh mệnh vốn không thể nương tựa…
Trong rừng thi đà này, có thể lĩnh ngộ chân lý của hết thảy sinh tử.
Ban đầu Thẩm Trường Kinh còn định tới gần đài thiên táng hơn một chút.
Nhưng đọc xong những dòng chữ trên bia, cậu từ bỏ ý định ấy, mang theo tâm trạng nặng nề rời khỏi nơi đó.
Đi được một đoạn, cậu quay đầu nhìn lại.
Đàn kền kền sau khi no bụng đã lần lượt biến mất trên bầu trời. Đài thiên táng lại trở về vẻ yên tĩnh vốn có.
Hơn mười phút huyên náo vừa rồi chính là náo nhiệt cuối cùng trong đời những người đã khuất.
Trong lòng Thẩm Trường Kinh dường như có thứ gì đang cuộn trào dữ dội.
Nếu không nói ra, cậu cảm giác mình sẽ bị cảm xúc ấy nhấn chìm.
“Em vẫn luôn rất sợ chết.”
Cậu chậm rãi lên tiếng.
“Có lẽ bắt đầu từ hồi cấp hai. Em sợ đi xe buýt sẽ rơi xuống sông rồi chết đuối, sợ buổi tối ngủ xong sẽ không bao giờ tỉnh lại nữa, sợ lúc tắm đột nhiên bị ngộ độc khí gas, sợ trường học xảy ra động đất rồi em bị chôn dưới đất, sợ ngồi máy bay gặp tai nạn, sợ một ngày nào đó đang đi trên đường chẳng hiểu sao lại bị xe đâm…”
“Em sợ sau khi mình chết, thế giới này vẫn thay đổi từng ngày, nhưng em chẳng còn nhìn thấy gì, cũng chẳng cảm nhận được gì nữa.”
“Có một thời gian em thường xuyên vì sợ hãi mà mất ngủ, còn từng đi gặp bác sĩ tâm lý.”
“Lúc đó em cứ nghĩ, tại sao con người nhất định phải chết?”
“Sau này lớn lên, tình trạng ấy không biết từ lúc nào dần nhẹ đi. Bây giờ thỉnh thoảng em vẫn sợ, nhưng không còn nghiêm trọng như trước nữa.”
Thẩm Trường Kinh khẽ nói:
“Em nghĩ… có lẽ em vẫn chưa có đủ dũng khí để đối mặt với cái chết.”
Cậu hít sâu một hơi.
Không khí lạnh buốt tràn vào cổ họng khiến toàn thân cậu khẽ run.
Tạ Lan Sinh vẫn nghiêm túc lắng nghe.
Một lúc sau, anh bình tĩnh kể:
“Lần đầu tiên anh thật sự trực diện với cái chết là hồi tiểu học. Khi ấy quê anh có người qua đời, anh theo bố mẹ về chịu tang.”
“Theo tập tục ở quê, người mất phải quàn trong nhà ba ngày mới hạ táng. Gia đình sẽ mở tiệc, mời họ hàng bạn bè tới, coi như thông báo cho mọi người biết chuyện.”
“Lúc anh tới, bữa tiệc rất náo nhiệt. Mọi người nói về cuộc đời người đã mất, nói về những chuyện từng trải qua với bà ấy. Anh không thấy ai khóc.”
“Họ đều nói bà sống tới một trăm tuổi, lúc ra đi không đau không bệnh, là hỷ tang.”
Tạ Lan Sinh nhớ lại:
“Anh tới viếng. Trước cửa từ đường có một ban nhạc đang đánh chiêng thổi kèn, tiếng pháo liên tục vang lên. Còn chưa bước vào trong đã nhìn thấy bức ảnh đen trắng treo trên tấm vải đen. Chắc là ảnh bà chụp khi khoảng sáu bảy mươi tuổi, cười rất đẹp.”
“Ba ngày sau, mọi người phủ một tấm vải lên quan tài. Một đoàn người rất dài khiêng quan tài vào sâu trong núi. Tiếng hô thi thoảng vang vọng giữa rừng, như thể đang nói với người chết rằng — mọi người đều tới tiễn bà.”
Tạ Lan Sinh chọn ra câu chuyện và cảm nhận khắc sâu nhất trong ký ức, kể cho Thẩm Trường Kinh.
“Sinh lão bệnh tử là lẽ thường của đời người.”
“Thật ra cái chết không đáng sợ như em tưởng tượng. Chính bởi vì có cái chết, con người mới càng biết quý trọng thời gian, quý trọng sinh mệnh và quý trọng từng người ở bên mình.”
Anh dừng lại một chút rồi nói:
“Em chắc đã xem Coco rồi. Trong phim chẳng phải có câu, thân xác biến mất chưa phải là cái chết thật sự, bị người ta lãng quên mới là cái chết thực sự sao?”
Tạ Lan Sinh dùng chính điện ảnh — thứ Thẩm Trường Kinh am hiểu nhất — để khuyên giải cậu.
Mây mù trong lòng Thẩm Trường Kinh cuối cùng cũng tan đi đôi chút.
Cậu nói:
“Vậy nếu anh chết, em sẽ làm một bộ phim vĩ đại nhất, lấy tên anh đặt cho bộ phim, rồi ở cả đầu phim lẫn cuối phim đều ghi một câu — ‘Xin dành bộ phim này để tưởng nhớ người bạn vĩnh viễn của tôi, Tạ Lan Sinh.’”
“Em muốn để lại tác phẩm.”
“Để lại một bộ phim có thể lưu danh thật lâu.”
Món quà ấy quá quý giá.
Tạ Lan Sinh cũng dùng cách tương tự để đáp lại cậu:
“Vậy nếu em chết, anh sẽ dùng hết sức lực của cả đời mình để phát hiện một ngôi sao sáng nhất trong vũ trụ, rồi lấy tên em đặt cho nó.”
“Khi mọi người nhìn thấy, họ sẽ nói — nhìn kìa, ngôi sao sáng nhất đó chính là Thẩm Trường Kinh.”
Thẩm Trường Kinh lập tức cười đến nheo mắt.
Hai lúm đồng tiền hiện lên sâu nhất, ngọt ngào nhất.
Cậu kéo lấy tay Tạ Lan Sinh.
Hai bàn tay khô ráo nắm lấy nhau trong chốc lát.
“Tạ Lan Sinh, cảm ơn anh.”
Tạ Lan Sinh đưa tay vuốt lại mái tóc bị gió thổi rối của cậu, mỉm cười hỏi:
“Cảm ơn anh chuyện gì?”
Thẩm Trường Kinh lắc đầu, cũng cong môi cười:
“Không có gì.”
“Chỉ là đột nhiên muốn cảm ơn anh thôi.”
Cậu nghĩ…
Có lẽ cậu đã hiểu vì sao nhịp tim trên đồng hồ điện tử của mình lại luôn bất thường rồi.