Sơn Dã Quy Hồng - Chương 101
Chương 101: Chuyển nhà
Tác giả: Vu Sơn Hữu Đoạn Vân
Chớp mắt đã hơn một tháng.
Giữa núi hoang, một thôn xóm mới lại dần mọc lên.
Tuy vẫn chưa hoàn thiện, phần lớn nhà cửa chỉ mới dựng xong khung sườn đủ để chống rét qua mùa đông, nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng đã khiến lòng người phấn chấn.
Mấy gian nhà của Nhung Phong bên Kính Hồ tốn khá nhiều thời gian, bởi các thôn dân làm vô cùng tỉ mỉ. Ngay cả một mẩu dằm xước nhô lên trên thanh gỗ cũng nhất định phải mài nhẵn mới chịu đem vào dùng.
Biên Hồng lại sợ mọi người vì lo xây nhà cho mình mà chậm trễ việc dựng nhà trong thôn.
Sau vụ thu hoạch mùa thu, thời tiết sẽ càng ngày càng lạnh. Nếu trước khi trời rét mà nhà cửa chưa dựng xong, mùa đông này thật sự chẳng biết phải sống thế nào.
Bởi vậy, mặc cho các thôn dân nói thế nào, Biên Hồng vẫn giục họ mau trở về giúp trong thôn. Ngay cả Mẫn biểu thúc cũng bị hắn nhất quyết “tiễn” về.
Nhà Mẫn biểu thúc đông con, mấy đứa lớn cũng sắp đến tuổi dựng vợ gả chồng, càng cần xây thêm vài gian phòng để chuẩn bị trước.
Sở dĩ phải dùng chữ “tiễn”, là bởi nhà mới của Biên Hồng nằm gần sâu trong Diệt Mông Sơn hơn trước, thường xuyên có thú lớn qua lại.
Ngay cả lúc đang xây nhà, con gấu mẹ nóng tính chiếm lãnh địa ở Loạn Thạch Lâm cũng từng dẫn gấu con ra đứng từ xa nhìn một hồi.
Có lẽ mùa hè thức ăn dồi dào, gấu mẹ không còn cáu kỉnh như trước. Cả nó lẫn đứa con đã lớn hơn rất nhiều đều béo tốt trông thấy.
Xem ra mùa đông năm nay, hai mẹ con không cần phải lang thang giữa trời rét tìm thức ăn nữa. Chỉ cần tìm một hang động ấm áp, ngon lành ngủ một giấc cho đến khi xuân về đất ấm.
Ngay cả lão Hầu Vương cũng dẫn đàn khỉ tới, ngồi xổm trên những ngọn cây cao phía xa, nhìn xuống Kính Hồ một lát rồi thôi, không tiến lại gần.
Kính Hồ dường như là một ranh giới ngầm đã được mọi sinh linh mặc nhiên công nhận.
Một bên là sơn dã.
Một bên là nhân gian.
Động vật trong núi tuân theo quy tắc ấy, rất ít khi tùy tiện vượt qua.
Dù tò mò đến đâu, chúng cũng chỉ đứng xa xa xem náo nhiệt một lát, sau đó quay đầu, ai làm việc nấy.
Có lẽ đợi những thôn dân xa lạ rời hết, trong căn nhà này chỉ còn lại Nhung Phong và Biên Hồng, chúng mới dè dặt ló mặt ra, hoặc lén lút mang tới vài trái cây làm quà cũng nên.
Còn bây giờ hiển nhiên chưa phải lúc thích hợp để đến thăm Thú Sơn Vệ.
Đám thú rì rà rì rầm chui trở lại rừng cây, không quấy rầy nữa.
Mà quả thật cũng nên như vậy.
Cho dù chúng có đến, Nhung Phong và Biên Hồng hiện giờ cũng chẳng có thời gian tiếp đãi.
Cửa còn chưa lắp xong, cửa sổ cũng đang làm, bếp chưa dựng, nồi chưa bắc.
Mọi thứ đều đang chờ thu xếp.
Tất cả dấu vết của cuộc sống vẫn còn nằm trên ngọn đồi bên kia, trong căn nhà nhỏ cô độc từng đứng giữa núi rừng suốt bao năm.
Cho nên—
Bọn họ phải chuyển nhà.
Không chỉ Nhung Phong và Biên Hồng.
Người dân các thôn xung quanh cũng phải nhân lúc thời tiết còn thuận lợi, từ biệt quê cũ, dời đến nơi ở mới.
Nói thì đơn giản.
Nhưng thật sự bắt tay vào làm mới thấy đau lòng đến nhường nào.
Cố thổ khó rời.
Bọn họ sinh ra ở đây, lớn lên ở đây. Từ trước tới nay, ai cũng tưởng mình rồi sẽ chết ở đây, giống như tổ tiên bao đời, cuối cùng cũng trở về với đất của quê hương này.
Nhưng hiện giờ, không chỉ nồi niêu chum vại trong căn nhà cũ phải dọn đi.
Ngay cả người đã nằm dưới mồ cũng phải cải táng.
Nếu không, một khi công trình trị thủy bắt đầu, nước sông đổi dòng, vùng đất này biến thành một dải mênh mông, quan tài của tổ tiên bao đời đều sẽ bị ngâm dưới nước.
Người dân nơi đây tin rằng tổ tiên có linh.
Trưởng bối qua đời chẳng qua chỉ là thân xác rời khỏi nhân gian, linh hồn vẫn còn. Họ chỉ chuyển từ căn nhà vách đất mái tranh sang sống trong một nấm mồ nhỏ khác mà thôi.
Vẫn biết.
Vẫn cảm nhận.
Vẫn có suy nghĩ, có vui buồn của riêng mình.
Ngày lễ ngày Tết còn phải ăn đồ cúng.
Mùng một, ngày rằm còn chờ con cháu đốt tiền giấy.
Sao có thể bỏ họ lại trong những nấm mồ sắp bị nước sông nhấn chìm được?
Thế là từng nhà bắt đầu đào mộ, cải táng, vượt qua hơn nửa ngọn núi, tìm nơi phong thủy tốt để an táng tổ tiên lần nữa.
Những người phụ nữ ở từ đường đi đầu tiên.
Mộ của các tỷ muội trong từ đường là dễ di dời nhất. Các ngôi mộ đều nằm dưới một khu rừng nhỏ, quan tài chôn đã lâu, phần lớn mục nát vì đất ẩm, không cần khiêng cả lên.
Chỉ cần gom những bộ xương đã bạc màu, cẩn thận bọc lại, ôm vào lòng rồi mang theo là được.
Nhung mẫu mới mất chưa lâu, việc cải táng khó khăn hơn đôi chút.
Nhưng Nhung Phong và Biên Hồng vẫn thu xếp cho bà ổn thỏa trước, sau đó mới trở về nhà.
Đến khi thật sự đứng trước căn viện nhỏ ấy, Biên Hồng lại bỗng không biết nên bắt đầu từ đâu.
Trước mắt hắn đều là từng mảnh hồi ức.
Hắn nhớ rất rõ những tháng ngày đã trải qua trong căn nhà mộc mạc giữa núi, nơi cách xa nhân gian, cách xa đám đông này.
Khắp nơi đều lưu lại dấu vết cuộc sống của bọn họ.
Ngoài cửa viện là những chiếc bẫy Nhung Phong từng làm, không biết đã bao lần bảo vệ ba anh em khỏi nguy hiểm.
Bản lề cánh cửa lớn lúc nào cũng kêu “kẽo kẹt, kẽo kẹt”.
Nhung Phong chẳng hề để ý.
Cuối cùng vẫn là Biên Hồng múc một thìa mỡ heo bôi lên.
Cái bản lề được “ăn mặn” một bữa, từ đó mới mãn nguyện im tiếng.
Còn có đống củi bên chân tường.
Chuồng ngựa mới dựng.
Chiếc cối đá từng treo giỏ của gấu con.
Cái bếp đất mọi người cùng nhau trộn bùn đắp nên.
Thanh ngạch cửa bằng gỗ từng khiến Quan Bảo vấp ngã, bị Nhung Phong bào đi bào lại đến mức tròn nhẵn.
Và mấy cây ăn quả phía sau viện, giờ đã sắp đến mùa chín…
Biên Hồng cứ đứng như vậy.
Trong khoảnh khắc, hắn có cảm giác mình lại phải từ bỏ một thứ gì đó.
Nơi này đã thật sự trở thành “nhà” trong lòng hắn.
Vậy mà bây giờ—
Hắn lại phải rời khỏi nó.
Trong cơn hoảng hốt, Biên Hồng dường như nhìn thấy Nhung mẫu đang ngồi trước cửa căn nhà cũ.
Bà kéo chiếc ghế con ra, ngồi lại trong những tháng ngày đã qua, trên đùi vẫn đặt giỏ kim chỉ chưa bao giờ rời tay, tóc chải theo kiểu của tự sơ nữ, mỉm cười vẫy hắn.
Biên Hồng đứng ngây ra.
Đúng lúc ấy, phía sau vang lên giọng Nhung Phong khe khẽ gọi:
“Biên Hồng?”
“Lại đây.”
Biên Hồng quay đầu.
Dưới ánh nắng ấm áp, thân hình cao lớn của Nhung Phong sừng sững như một ngọn núi.
Hắn đang kéo chiếc xe đẩy tay.
Trên xe chất đầy gia sản Biên Hồng vất vả từng chút một tích cóp được suốt thời gian qua.
Còn có hai đứa em đang cười tươi, vẫy tay với hắn.
Cả hai đều đã cao hơn rất nhiều.
Đặc biệt là Nguyên Định, so với đứa trẻ gầy nhom trên đường chạy nạn năm xưa quả thật như hai người khác nhau.
Thân thể cậu rắn rỏi hơn, ánh mắt trong sáng, đã thấp thoáng dáng vẻ của một thiếu niên khôi ngô tuấn tú.
Quan Bảo cũng không còn mang vẻ hoảng sợ, lúc nào cũng co rúm trong chiếc áo bông rách, nấp dưới thân hình gầy yếu chẳng kém gì mình của hai người anh để tránh né ác ý của những kẻ bị đói khát bức đến mất nhân tính.
Bây giờ cậu có thể thoải mái mà cười.
Muốn vui bao nhiêu thì vui bấy nhiêu.
Trên càng xe còn có con khỉ nhỏ ngồi xổm.
Tiểu hầu rất biết điều, chẳng những không cần người khác trông nom, bản thân còn ôm một chiếc giỏ nhỏ đựng kim chỉ, vẻ mặt nghiêm túc vô cùng.
Tuổi còn bé xíu mà nom như đã phải nhọc lòng không ít vì cái nhà này.
Gấu con và Ngân Sương đi bên cạnh.
Trên lưng hai đứa cũng chất đầy chăn bông, vải vóc và da lông.
Gấu con thậm chí còn ngậm cả chậu cơm của mình trong miệng.
Trong lòng Nguyên Định là một thùng nuôi ong được phủ kín bằng vải đen.
Bên trong rất yên tĩnh.
Chỉ thỉnh thoảng có vài con ong gấu tròn vo, lông xù bay ra, thay ca với mấy con ong hộ vệ đang ngồi trên vai Nguyên Định.
Chúng không chỉ bảo vệ tổ và ong chúa.
Những chiếc kim nhọn ở cuối bụng cũng luôn trong trạng thái sẵn sàng, cảnh giác canh giữ cả nhà đang vây quanh chiếc xe.
Dẫu sao mấy “con người” này cũng xem như tài sản riêng của chúng.
Làm phương tiện đi nhờ suốt thời gian dài như vậy, dùng cũng khá thuận tiện.
Ngay cả hai tấm chiếu trúc đan mịn trên giường đất mà Biên Hồng rất thích cũng được Nhung Phong mang theo, lót ngay ngắn trên xe.
Mà quan trọng nhất—
Trước mắt Biên Hồng còn có bàn tay Nhung Phong đang chìa về phía hắn.
Nhung Phong nói:
“Lại đây.”
“Chúng ta đi thôi.”
Đôi chân như mọc rễ của Biên Hồng cuối cùng cũng nhúc nhích.
Hắn gần như theo bản năng bước về phía Nhung Phong.
Và ngay trong khoảnh khắc ấy, hắn chợt hiểu ra—
Đối với một người phiêu bạt, “nhà” có lẽ chưa bao giờ chỉ là một căn phòng có thể che mưa chắn gió.
Cũng chẳng phải một khoảng sân có thể nhóm lửa nấu cơm, để người ta ăn no mặc ấm.
Mà là—
nơi lòng mình muốn trở về.
Biên Hồng bước tới, nắm lấy bàn tay ấm áp của Nhung Phong.
Sau đó hắn rất tự nhiên đưa tay nắm lấy thanh gỗ bên còn lại của chiếc xe đẩy.
“Ừ.”
“Chúng ta đi thôi.”
…
Lần di dời này không phải hành trình của riêng một nhà một hộ.
Mà là cả một vùng thôn xóm cùng rời quê cũ, chuyển đến đất mới.
Người dân vừa mang theo hy vọng về tương lai, vừa lưu luyến mảnh đất đã gắn bó cả đời.
Họ quay đầu nhìn những căn nhà mình từng sống, nhìn nơi tổ tiên bao đời từng sinh hoạt, nhớ tới cảnh tượng thuở nhỏ, không ít người bất giác đỏ mắt, nước mắt rơi xuống.
Nhưng hy vọng của cuộc sống đang ở phía trước.
Họ gánh đòn gánh.
Cõng tay nải.
Kéo xe.
Cuối cùng vẫn không quay đầu nữa, từng bước đi về một phương hướng mới.
Con người vốn là như vậy.
Dường như lúc nào cũng có một sức sống sinh sôi không dứt.
Dù mất đi bao nhiêu lần, vẫn có thể bắt đầu lại.
Dù ngã xuống bao nhiêu lần, vẫn có dũng khí bước tiếp.
Đó là sức sống ngoan cường, vô cùng vô tận ẩn sâu trong những người dân bình thường nhất.
Trên đường đi, Biên Hồng quay sang nhìn một gia đình bên cạnh.
Trên quang gánh của họ có một đứa bé mới vài tháng tuổi.
Người phụ nữ nhà ấy trước đây còn từng cho tiểu hầu bú sữa.
Nhà nàng không có mấy lao động khỏe mạnh, việc chuyển nhà khá vất vả, bởi vậy Biên Hồng dứt khoát bảo nàng ôm con ngồi lên phía sau xe đẩy nhà mình.
Nàng bế đứa bé ngồi nhờ suốt một quãng đường.
Ban đầu còn hơi ngượng ngùng, về sau quen rồi cũng thoải mái hơn hẳn.
Nàng còn vỗ ngực cam đoan:
“Ta nhiều sữa lắm. Nhất định sẽ nuôi tiểu hầu nhà ngươi béo múp như con trai ta mới thôi!”
Dọc đường, các thôn dân đi thành từng nhóm, vừa đi vừa trò chuyện, tiếng nói tiếng cười dần nhiều lên.
Nỗi buồn vì phải rời nơi ở cũ cũng chậm rãi phai bớt.
Mọi người bắt đầu bàn xem sau này sẽ sống thế nào, con cái trong nhà tương lai phải thu xếp ra sao, lại tính tới vụ mùa năm nay, mong những hạt lương thực khi thu về đều căng tròn chắc mẩy.
Năm nay mưa nhiều.
Tuy từng xảy ra lũ lụt, nhưng triều đình cứu chữa kịp thời, phần lớn nơi đây cũng không chịu tổn thất quá nghiêm trọng.
Chỉ cần thời tiết thuận theo mùa, chờ đến mùa thu thu hoạch hết hoa màu, tích trữ lương thực xong, họ sẽ có thể yên tâm trải qua một mùa đông.
Đối với những người đã vật lộn quá lâu giữa thiên tai, đó chính là ánh sáng đầu tiên của một cuộc sống mới.
Cuộc sống ở nhà mới bận rộn mà đầy đặn.
Nơi này khác hẳn căn nhà nhỏ ngày trước.
Căn nhà cũ nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ, quanh năm phải hứng những trận gió cứng như dao.
Cứ tới mùa gió lớn, từ xa đã nghe tiếng rừng cây xào xạc từng hồi. Gió đập vào cửa sổ, khiến người ta muốn lờ đi sự tồn tại của nó cũng không được.
Ngay cả sáng sớm ra nhà xí cũng phải mặc thêm mấy lớp áo.
Mùa hè còn đỡ.
Đến mùa đông, vừa bước chân khỏi cửa, gió lạnh đã xuyên thẳng qua quần áo, rét buốt tận xương.
Ruộng bậc thang cũng không dễ canh tác.
Muốn trồng trọt phải dựa vào sức người từng chút một khai hoang, đắp luống, quanh năm vô cùng vất vả.
Kính Hồ thì hoàn toàn khác.
Nói nơi đây tựa núi kề sông, gió yên sóng lặng cũng chẳng quá lời.
Nhìn về phía trước là mặt hồ rộng lớn, phong cảnh thanh tú, địa thế bằng phẳng.
Nhìn sang bên cạnh là từng mảng đất thoai thoải. Chỉ cần khai khẩn thêm một chút là có thể trồng hoa màu, đợi đến mùa thu ắt sẽ cho ra từng vụ quả hạt đầy cành.
Lúc này đang độ thu sang.
Rừng cây phía sau nhà đẹp đến lạ thường.
Lá vàng rơi lả tả, ánh nắng len qua kẽ lá, những mảng sáng tối đan xen, yên tĩnh mà thanh bình.
Biên Hồng rất thích bầu không khí như vậy.
Thấy trời còn sớm, hắn bắt đầu chuyển từng món đồ trên xe vào nhà.
Thu xếp đâu vào đấy xong, lại xách nước lau sạch lớp bụi, nhóm bếp, nổi lửa.
Bữa cơm đầu tiên của nhà mới chính thức được nấu lên.
Đồ ăn chẳng cầu kỳ.
Chỉ là một nồi cháo, một bát canh cùng mấy chiếc màn thầu bột nở.
Nhưng cả nhà vẫn ăn ngon lành vô cùng.
Sau bữa tối, Biên Hồng mang theo mấy món nguội dùng để tế lễ, đi tới gò đất nhỏ mới chọn ở cách đó không xa.
Ba người chiến hữu của hắn cũng đã được cải táng về đây.
Biên Hồng rót rượu xuống đất.
Rượu vừa chạm nền đất đã nhanh chóng thấm mất, như thể được đất đai uống sạch.
Hắn ngồi lại một lát.
Coi như bầu bạn với những người bạn cũ.
Trước khi đứng dậy, Biên Hồng còn lặng lẽ nói với ba ngôi mộ:
“Nếm thử món cá hấp này đi.”
“Bắt ở Kính Hồ đấy, tươi lắm.”
Chuyện bắt cá trong hồ bắt đầu từ gấu con.
Cả ngày nó cứ ngồi bên mép nước, chăm chú nhìn những con cá bơi qua bơi lại.
Cá trong Kính Hồ nhiều đến bất ngờ.
Chỉ cần kiếm một cành cây, vót nhọn đầu rồi đứng trong vùng nước nông, đợi cá bơi qua—
Nhung Phong nhìn chằm chằm mặt nước.
Đúng khoảnh khắc thích hợp, hắn bất ngờ ra tay.
Gần như lần nào cũng có thể xiên được một con cá lớn.
Có lúc một xiên còn xuyên liền ba con.
Nguyên Định và Quan Bảo vui đến không chịu được.
Hai đứa chưa từng có trải nghiệm như vậy.
Đối với một nhà đã sống trên núi quá lâu, muốn được ăn một bữa cá vốn chẳng phải chuyện dễ dàng.
Còn bây giờ, Biên Hồng có thể tha hồ nghĩ đủ cách chế biến.
Lúc thì hấp.
Lúc thì kho.
Cá nhỏ thì chiên giòn, rắc thêm chút muối, cắn một miếng giòn rụm, thơm nức.
Mỗi lần hắn chiên cá, gấu con đều đứng cạnh bếp, ôm chậu cơm, nước miếng chảy ròng ròng chờ được ăn.
Khói bếp từ ngôi nhà mới chầm chậm bay lên.
Mùi thức ăn cũng theo gió tản ra bốn phía.
Nếu là một gia đình bình thường giữa núi rừng, mùi thơm như vậy chắc chắn sẽ thu hút vô số con vật nhỏ mò tới.
Nhưng ở đây thì không.
Tất cả thú ăn cỏ hay ăn thịt quanh vùng đều biết—
Người sống ở nơi này là Thú Sơn Vệ.
Bọn họ cũng là một phần của Diệt Mông Sơn.
Và nơi đây—
cũng là nhà của họ.
Bên Kính Hồ, khói bếp lượn lờ.
Núi non, hồ nước, mái nhà mới hòa vào nhau như một bức tranh.
Ngay cả Ngân Sương cũng không cần bị nhốt mãi trong chuồng ngựa nữa.
Nó có thể tự do chạy trên đồng cỏ bằng phẳng, rộng lớn.
Khát thì đi tới mép hồ, tìm một chỗ đất chắc, cúi đầu uống nước.
Đói thì thong thả gặm cỏ thu.
Cỏ thu không mềm non như cỏ xuân, nhưng dinh dưỡng lại đầy đặn hơn, trên ngọn còn có không ít hạt cỏ.
Ngân Sương rất thích thong dong đi lại trên bãi cỏ như vậy.
Giống như những năm còn ở quân doanh, thỉnh thoảng Biên Hồng lén dẫn nó ra ngoài, tranh thủ chút thời gian rảnh rỗi hiếm hoi để thả lỏng.
Ngày tháng của gấu con lại càng sung sướng.
Nó rất thích cá béo.
Có lúc còn tự mình lội xuống vùng nước nông, vụng về tìm cách bắt những con cá nhỏ bơi ngang người.
Chỉ tiếc nó còn bé, chẳng có bao nhiêu kinh nghiệm.
Thấy Nhung Phong dùng cành cây xiên cá, nó cũng muốn bắt chước.
Nhưng bàn chân gấu to bè đến mức cầm một cành cây cũng chẳng chắc nổi.
Không còn cách nào khác, nó chỉ có thể “bõm, bõm” nhào theo cá bằng hai chân.
Kết quả lần nào cũng giống nhau.
Hoặc bị cá quẫy đuôi đập vào bụng.
Hoặc bị vỗ trúng hông.
Đến khi nó luống cuống xoay người định chộp, con cá trơn tuột đã sớm biến mất.
Cuối cùng gấu con chỉ có thể tay trắng trở về, cụp tai cụp đầu, cả người toát ra vẻ mất mát.
Nếu lúc ấy Nhung Phong rảnh, hắn thấy nó đáng thương quá thì sẽ dẫn nó ra bờ hồ, tiện tay bắt cho một con cá béo làm món ngon.
Gấu béo ăn cá béo.
Quả thật hợp nhau vô cùng.
Gấu con chẳng thèm quan tâm người khác nói gì.
Dẫu sao suốt đường lớn lên này, cay ngon mặn ngọt gì nó cũng đã ăn qua.
Có béo hay không—
chỉ mình nó biết!
